Thứ Năm, 23 tháng 6, 2016

4 món ăn từ thực phẩm dâng vua, nay dùng trị liệt dương rất tốt



4 món ăn từ thực phẩm dâng vua, nay dùng trị liệt dương rất tốt

(Soha.vn) - Hải sâm xưa được dùng cho các vua chúa quan lại thưởng thức, nay dùng để chế biến các món ăn chữa các bệnh khó nói ở nam giới như liệt dương.




Một trong những hải sản quý hiếm được đàn ông ưa chuộng đó chính là hải sâm hay còn gọi là đỉa biển. Đó là một loại động vật không xương, sống ở biển, trên đáy cát hoặc san hô chết. Hải sâm xưa được dùng cho các vua chúa quan lại thưởng thức, nay dùng để chế biến các món ăn, làm thuốc rất có giá trị về mặt dinh dưỡng và chữa các bệnh khó nói ở nam giới như liệt dương.
Theo y học cổ truyền, hải sâm vị mặn, tính ấm, có công dụng bổ thận ích tinh, dưỡng huyết nhuận táo, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tinh huyết hao tổn, hư nhược, liệt dương, di tinh, mộng tinh, tiểu tiện nhiều lần, táo bón. Trong 100g hải sâm khô có chứa 76g protein, ngoài ra còn nhiều nguyên tố vi lượng như P, Cu, Fe... Có thể dùng hải sâm tươi và khô đều được.
4 món ăn từ thực phẩm dâng vua, nay dùng trị liệt dương rất tốt
Hải sâm.
- Hải sâm xào mướp đắng: Hải sâm tươi 200g, mướp đắng 400g, hành hoa, dầu ăn, gia vị đủ dùng. Hải sâm rửa sạch, bỏ nội tạng, thái miếng nhỏ. Mướp đắng bỏ ruột, rửa sạch, thái nhỏ. Bắc chảo lên bếp, đổ dầu ăn cho sôi, cho hải sâm vào xào chín tới, sau đó cho mướp đắng vào xào cùng tới khi mướp chín nêm gia vị, cho hành hoa vào và bắc xuống. Dùng nóng.
- Hải sâm hầm thịt dê: Hải sâm khô 50g, thịt dê tươi 100g, gia vị, nước đủ dùng. Hải sâm ngâm nước tới khi mềm, rửa sạch, thái nhỏ. Thịt dê rửa sạch, thái quân cờ. Cho thịt dê vào nồi, đảo qua với dầu ăn và gia vị, sau đó cho hải sâm vào đảo cùng, đổ nước xâm xấp đun tới khi thịt dê chín nhừ là dùng được. Nên ăn nóng.
- Chè hải sâm: Gạo lứt 20g, hải sâm 20g, đường, nước đủ dùng. Hải sâm thái miếng nhỏ, nấu chung với gạo đến khi gạo nhừ thì cho đường vào là dùng được. Ăn mỗi ngày một bát, ăn trong 5 ngày. Món chè có tác dụng bổ tinh tủy, ích huyết. Thích hợp với những người thận yếu, hay ra mồ hôi trộm, bị di, mộng tinh.
- Hải sâm nấu mực, chim cút: Chim cút 1 con, hải sâm, mực khô 50g, hành hoa, gừng, gia vị mỗi thứ một ít. Chim cút làm sạch lông, nội tạng rửa sạch; mực và hải sâm ngâm nước cho nở, rửa sạch thái nhỏ. Cho chim cút và mực vào hầm khoảng 30 phút, sau đó cho hải sâm, gia vị vào nấu sôi là dùng được. Món ăn này có tác dụng bổ thận dưỡng huyết, cường gân tráng cốt. Những người xuất tinh sớm, di tinh do thận nên dùng.

BÀI THUỐC
theo Sức khỏe Đời sống

Liệt dương, lãnh cảm không ăn loại thực phẩm này



Liệt dương, lãnh cảm không ăn loại thực phẩm này
Thịt thỏ rô ti rất bổ dưỡng nhưng người liệt dương, lãnh cảm không nên ăn.

Ăn thịt thỏ có khi cũng có tác dụng phụ, có một số người không nên ăn, nhất là những người bị dương hư, bị liệt dương, bị lãnh cảm tình dục.




Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Thịt thỏ 100 - 200g, câu kỷ tử 15g. Đun nhỏ lửa với nước đến khi thịt nhừ, thêm ít muối, ăn làm một lần trong ngày. Dùng 7 - 12 ngày.
Chữa thiếu máu, người mới ốm dậy: Câu kỷ tử 15g, thịt thỏ 250g. Rửa sạch câu kỷ tử cùng thịt thỏ thái miếng cho vào nồi với lượng nước vừa, dùng lửa nhỏ đun đến nhừ, nêm gia vị vừa đủ là được. Ngày một bữa, ăn thay thức ăn vào bữa cơm.
Chữa phụ nữ huyết hư, gầy yếu: Thịt thỏ 200g, thái nhỏ, hấp cách thuỷ hoặc nấu chín nhừ với táo tàu 20g, rồi ăn nóng. Ngày làm một lần.
Liệt dương, lãnh cảm không ăn loại thực phẩm này
Chữa bí đại tiện: Thịt thỏ 500g, vừng đen 30g, hành, gừng, mỳ chính, muối tiêu, dầu vừng, nước sốt lượng vừa đủ. Thỏ bỏ da, móng chân, nội tạng. Cho thịt vào trong nồi nhúng cho đi hết máu ở thịt, sau khi sôi, hớt bọt, bỏ vào đó các thứ gia vị nói trên như hành, gừng, muối tiêu, xong đun tiếp cho thịt chín, vớt ra ăn.
Ăn thịt thỏ có khi cũng có tác dụng phụ, có một số người không nên ăn, nhất là những người bị dương hư, bị liệt dương, bị lãnh cảm tình dục. Thịt thỏ không được nấu lẫn, ăn cùng với  thịt ba ba, thịt rùa trong một bữa ăn.
Trong 100g thịt thỏ chứa khoảng 38,4% nước, 11,8% protit, 4,4% lipit, 11,6mg% canxi, 123,2mg% phốt pho, 0,9mg% sắt, 4,2mg% vitamin PP...

BÀI THUỐC
theo Gia đình và xã hội

Đậu đen: Chữa bệnh liệt dương rẻ tiền và đơn giản nhất

Đậu đen: Chữa bệnh liệt dương rẻ tiền và đơn giản nhất




Đậu đen: Chữa bệnh liệt dương rẻ tiền và đơn giản nhất

Không cần tốn cả đống tiền cho các "thần dược" hiếm quý, các quý ông có thể cải thiện "bản lĩnh đàn ông" với một thứ rẻ nhất: đậu đen.




Để chữa liệt dương, bạn chỉ cần thực hiện một công thức tối đơn giản: dùng đậu đen sao già, đổ rượu vào ngâm uống.
Đậu đen cũng được dùng chữa nhiều bệnh khác:
Đau bụng dữ dội: Dùng đậu đen 50 gr sao cháy, sắc với rượu uống hoặc sắc với nước rồi chế thêm rượu vào uống.
Lưng, sườn đau nhức đột ngột: Dùng đậu đen 200 gr ngâm rượu uống.
Sau đẻ bị trúng gió nguy cấp, hoặc tay chân tê cứng, chóng mặt sây sẩm: Dùng đậu đen 300 gr sao cháy đến bốc khói, đổ vào 500 ml rượu, ngâm qua một ngày, đem uống và đắp chăn cho ra mồ hôi.
Mắt mờ, ra gió bị chảy nước mắt: Dùng đậu đen đồ lên, chứa vào mật con bò đực, phơi gió cho khô, uống mỗi lần 27 hạt.
theo Đất Việt

Món ăn nhà quê chữa liệt dương, yếu sinh lý rất tốt



Món ăn nhà quê chữa liệt dương, yếu sinh lý rất tốt

Loại thực phẩm này tuy không phải là sơn hào hải vị, nhưng lại có giá trị dinh dưỡng cao, bởi vậy mà còn được gọi là “nhân sâm nước”. Đó chính là cá chạch.




Cá chạch là loại cá da trơn chuyên sống ở tầng nước đáy. Trong dân gian cá chạch còn có nhiều tên gọi như thu ngư, nê thu... Tên khoa học là Misgumus naguilli-caudatus. 
Đông y gọi cá chạch với tên thuốc là thu ngư, cho rằng cá có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ khí huyết, tráng dương, thanh nhiệt, tiêu khát, chữa nóng trong,… Cá chạch có nhiều loại như chạch đồng, chạch bùn, là loài cá nước ngọt sống ở các các ao, hồ, sông, suối. Thân tròn, dẹt hai bên, nhất là gần đuôi, dài khoảng 15cm. Đầu nhỏ, hơi tròn, mắt bé, miệng thấp có râu. Da mỏng, dưới da có nhiều tuyến tiết chất nhờn, nên rất trơn nhẵn. Vảy nhỏ, lẫn sâu dưới da nên khó thấy...
Người ta đã phân tích thấy trong cá chạch chứa nhiều thành phần dinh dưỡng như hàm lượng protein cao hơn hẳn thịt gà. Ngoài ra sách "Thánh tễ tống lục" còn nói dùng cá chạch với lá sen khô tán bột trộn chung để chữa bệnh đái tháo đường. Song còn rất nhiều phương thuốc mà cá chạch là dược liệu chính để chữa các bệnh viêm gan, vàng da, suy thận, suy nhược thiếu máu, chữa trĩ sa, xuất huyết...
Món ăn nhà quê chữa liệt dương, yếu sinh lý rất tốt 1
Cá chạch.
Các món ăn thuốc dưới đây đã được sử dụng để góp phần trị liệu các bệnh.
* Thanh nhiệt giải độc, chữa mẩn ngứa: Cá chạch 30g, đại táo 15g, gia vị vừa đủ, nấu canh ăn ngày một lần. Ăn 7- 10  ngày.
* Chữa suy nhược, thiếu máu, suy dinh dưỡng ở trẻ: Cá chạch 250g, thịt lợn nạc 50g, lạc nhân 100g, gừng 5g, hạt tiêu xay 5g, nước 200 ml. Cách làm: Cá chạch rán qua, cho nước, thịt, gừng đun to lửa 10 phút rồi hầm nhừ thịt đến khi nước còn 100ml. Cho thêm gia vị là ăn được. Ăn ngày 1 lần. Ăn trong 1 tuần. Nghỉ 1 tuần lại tiếp tục. Dùng trong 3 tháng.
Hoặc: Cá chạch 120g rán vàng, hoàng kỳ 15g, đẳng sâm 15g, hoài sơn 30g, đại táo 15g, gừng tươi 5g. Tất cả đem sắc kỹ, lấy nước bỏ bã, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng bổ tỳ vị, bổ huyết, dùng thích hợp cho những người suy nhược cơ thể, gầy yếu, thiếu máu, trẻ em suy dinh dưỡng.
* Chữa vàng da do viêm gan: Cá chạch 250g, đậu phụ 500g. Cá chạch làm sạch bỏ đầu đuôi, đậu phụ xắt miếng đem nấu chín rồi cho cá chạch vào, đun sôi một lát là được, chế thêm hành, gừng tươi và gia vị, dùng làm canh ăn. Công dụng bổ tỳ vị, trừ thấp, dùng thích hợp cho người bị viêm gan vàng da, tiểu tiện không thông.
* Hỗ trợ điều trị viêm gan mạn tính: Cá chạch 150g (mổ bỏ ruột, xương), thái mỏng. Mộc nhĩ đen 2,5g, rau kim châm 15g. Tất cả nấu chín. Ăn nóng chia 2 lần trong ngày.
* Viêm gan cấp, mãn: Làm sạch cá chạch, đem sấy khô, tán nhỏ thành bột, cất trong lọ kín dùng dần. Mỗi lần uống 10g, ngày uống 3 lần. Kinh nghiệm cho thấy khi dùng bột cá chạch chữa chứng viêm gan cấp hoặc mãn thì khả năng hồi phục chức năng gan cho kết quả hơn hẳn khi dùng các loại thuốc trợ gan thông thường.
* Chữa khí hư, mệt mỏi: Chạch 200g, rửa sạch nấu canh hay nấu với gạo tẻ thành cháo ăn, mỗi ngày ăn 2 lần.
* Dùng trong thiếu canxi, suy dinh dưỡng, ra mồ hôi do rối loạn thần kinh thực vật ở trẻ nhỏ: Cá chạch làm sạch, cho vào dầu rán chín vàng cho trẻ ăn hoặc ăn với cơm, hay nấu thành canh ăn.
Món ăn nhà quê chữa liệt dương, yếu sinh lý rất tốt 2
Cá chạch om chuối đậu.
* Tăng cường sức khoẻ và khả năng tình dục: Cá chạch 500g, lạc nhân 100g, gạo tẻ 300g, dầu ăn, muối, xì dầu, đường, hành, rau thơm… vừa đủ. Cách làm: Đãi sạch gạo, cho thêm ít muối vào rồi trộn đều. Đun nước sôi, cho gạo vào nấu cháo. Mổ chạch, lọc bỏ xương sống, rửa sạch, để khô rồi cho dầu lạc, muối, xì dầu và đường vào đảo đều. Khi cháo sắp được, cho chạch vào nấu chín là được. Khi ăn cho thêm hành và rau thơm. Ăn thường xuyên món này có tác dụng rất tốt cho những người sức khoẻ yếu, yếu sinh lý…
* Chữa mồ hôi trộm ở trẻ em: Cá chạch 100g, gạo 50g, dầu ăn, gia vị vừa đủ. Cách làm: Cá chạch làm sạch, bỏ đầu, nội tạng, đuôi, đem hấp cách thuỷ cho chín, gỡ lấy thịt, ướp bột gia vị, xào với dầu ăn. Xương cá chạch giã nhỏ lọc lấy 200ml nước. Gạo xay thành bột cho vào nước lọc xương chạch quấy đều đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho thịt chạch và gia vị vào đảo đều. Cháo sôi lại là được. Ăn một lần trong ngày lúc đói. Ăn liền 5 ngày.
theo Nông nghiệp Việt Nam



Cá trê hầm đậu đen khắc phục tình trạng suy giảm tình dục

Cá trê hầm đậu đen khắc phục tình trạng suy giảm tình dục



Cá trê hầm đậu đen khắc phục tình trạng suy giảm tình dục

Theo các nhà dinh dưỡng, cháo cá trê hầm đậu đen có tác dụng bổ thận, bổ gan, bổ máu; điều hoà kinh nguyệt do gan, thận suy nên hay đi đái đêm và nhất là chống suy giảm tình dục.

Cá trê có tên khoa học là Clarias fuscus, là loài cá nước ngọt. Mang cá là một bộ phận đặc biệt gọi là hoa khế làm cho cá có thể sống trên cạn được lâu.
Để nấu món cháo này, cá trê một con lớn làm sạch, giữ đầu, bỏ mang và để ráo nước rồi ướp với bột nêm, tiêu bột, gừng giã nát cho thấm. Đậu đen 40g ngâm nước 4 – 5 giờ rồi vớt ra để ráo.
Phi dầu ăn với tỏi, gừng cho thơm, cho cá trê vào đảo vài lần, tiếp đến cho nước sôi để nguội và đậu đen (đã ngâm) vào nấu cho sôi, sau đó đun nhỏ lửa trong một giờ cho nhừ đậu và cá.
Trước khi nhắc xuống, cần nêm nếm lại gia vị cho vừa ăn và thêm một ít rau thơm như ngổ điếc, ngò tây… Món này ăn nóng, mỗi tuần ăn ba lần vừa có dinh dưỡng vừa phòng chống suy giảm tình dục, nhất là cho người lớn tuổi.
THEO CÁC NHÀ DINH DƯỠNG: Trong 100g thịt cá trê có 16,5g protid; 11,9g lipid; 20mg Ca; 21mg P; 1mg sắt; 0,1mg vitamin B1; 0,04mg B2. 1.4mg vitamin PP và cung cấp 178 calo.
Theo đông y, thịt cá trê có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ huyết, giảm đau, sinh tân, ích khí, thúc đẩy việc tạo sữa, lợi tiểu, tiêu thũng, bổ huyết. Thịt cá trê giúp tăng cường sinh lực, bổ khí huyết, chữa được đau lưng, mỏi gối, chóng mặt, di tinh, giúp da dẻ hồng hào tươi nhuận, giúp cho tinh thần được thư thái. Đặc biệt, ăn thường xuyên cá trê khắc phục được chứng suy giảm tình dục, nhất là với người cao tuổi.
Đậu đen có chứa albumin, sinh tố A, B, C, PP, protid, glucid, lipid, muối khoáng. Hàm lượng axít amin cần thiết trong đậu đen rất cao gồm lysin, methionin, tryptophan, phenylalanin, alanin, valin, leucin... Theo đông y, đậu đen tính hơi ôn, vị ngọt, quy kinh thận, có tác dụng trừ thấp, giải độc, bổ thận, bổ huyết, chữa được cước khí, bồi bổ cơ thể, làm đẹp nhan sắc...
theo Sài Gòn tiếp thị

Bài thuốc quý từ đậu đen cứu cánh cho người thận hư, gan yếu



Bài thuốc quý từ đậu đen cứu cánh cho người thận hư, gan yếu

Bài thuốc quý từ đậu đen cứu cánh cho người thận hư, gan yếu

Theo Đông y, đậu đen có vị ngọt, tính bình, có tác dụng hoạt huyết giải độc, khứ phong lợi thủy, điều trung hạ khí, thanh nhiệt giải biểu, kiện tỳ chỉ hãn, dưỡng can, làm sáng mắt.


Đông y gọi đậu đen là ô đậu hay hắc đại đậu... những vị thuốc chế với đậu đen có tác dụng bổ thận thủy. Theo Đông y, đậu đen có vị ngọt, tính bình, có tác dụng hoạt huyết giải độc, khứ phong lợi thủy, điều trung hạ khí, thanh nhiệt giải biểu, kiện tỳ chỉ hãn, dưỡng can, làm sáng mắt...
Một số cách trị bệnh bằng đậu đen :
Trị đau lưng: đậu đen 100g, giã giập, cho vào ít giấm xào cho nóng lên để âm ấm, đắp vào vùng lung đau, có thể để qua đêm. Hay đậu đen 50g, đuôi heo hoặc đuôi bò 1 cái. Hầm thật nhừ, ăn cả nước lẫn cái.
Mỗi tuần ăn 2 - 3 lần, kết quả khá tốt.
Trị phụ nữ sau khi sinh bị suy yếu, chóng mặt, hoa mắt do mất máu: đậu đen 50g, gà ác 1 con, hầm thật nhừ, ăn cả nước lẫn cái. Mỗi tuần ăn 2 lần, rất mau lại sức.
Trị mắt mờ ở người cao tuổi, nhìn không rõ, hay bị hoa mắt, chóng mặt: đậu đen 100g, mè đen 100g. Sao khô, tán bột, trộn đều. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 thìa cà phê (8g). Uống lâu ngày, mắt dễ chịu hoặc đỡ mờ hơn.
2 bài thuốc kỳ diệu từ đậu đen áp dụng được cho tất cả mọi người2 bài thuốc kỳ diệu từ đậu đen áp dụng được cho tất cả mọi người
(Soha.vn) - Đậu đen là loại thực phẩm dưỡng sinh tốt nhất để bổ mắt đến già vẫn đọc được chữ.
Trị âm hư hỏa vượng (biểu hiện sốt về chiều, đau đầu, mặt bừng nóng, mắt đỏ, dễ tức giận): đậu đen 50g, lá dâu tằm ăn 20g. Đổ vào 1 lít nước, nấu cho sôi kỹ, lọc lấy nước uống dần trong ngày.
Đậu đen chế hà thủ ô chữa di tinh, liệt dương, tay chân mỏi yếu, râu tóc bạc sớm: 50g đậu đen nấu nước rồi lấy nước đậu chưng cách thủy với 300g hà thủ ô đỏ trong 2 - 3 giờ, vớt ra để ráo phơi khô để dành dùng lâu, dùng dạng nước sắc mỗi ngày 15 - 20g hoặc đem tán bột, mỗi lần uống 5g.
Trị phù thũng do thận hư yếu: đậu đen 100g, rễ cỏ tranh 15g. Nấu với 1 lít nước, uống dần trong ngày. Có thể uống lâu dài cho đến khi khỏi bệnh.
Trị chứng viêm gan mạn: Ngoài những thuốc đặc trị, nên dùng 100g đậu đen nấu lấy nước uống thường xuyên có tác dụng giải được độc tố trong gan ra ngoài.
Những bài thuốc quý từ đậu đen trị bệnh cho tất cả mọi người
Ra mồ hôi nhiều do thể trạng suy nhược: đậu đen 30g, phù tiểu mạch 30g, đại táo 15g, sắc uống trong ngày. Hoặc đậu đen 60g, hoàng kỳ 30g, sắc uống.
Viêm da lở loét do nhiệt độc hoặc ngộ độc thuốc và thực phẩm: đậu đen 30g, cam thảo sống 9g, sắc uống. Tiểu ra máu: đậu đen 30g, đậu xanh 30g, rễ cỏ tranh 30g, sắc uống.
Rối loạn tiền đình (hay bị chóng mặt): đậu đen 30g, ngải cứu 45g, trứng gà 1 quả. Luộc 3 vị cho tới khi trứng chín. Ăn trứng, uống nước sắc.
Làm giải rượu: uống nước sắc đậu đen càng nhiều càng tốt.
Giải khát, làm hết khô miệng ban đêm: đậu đen 80g, lê 1 quả, đường phèn 30g, sắc lấy nước uống hằng ngày.
Chữa phong thấp, gân co gối nhức, trong bụng nóng, đại tiện bón: đậu đen ngâm nước, ủ cho mộng dài từ 2 - 3cm rồi phơi khô, dùng 1 thăng rồi cho nửa lạng giấm vào trộn đều, sao vàng tán nhỏ. Mỗi lần uống 1 muỗng nhỏ với rượu trước khi ăn, ngày uống 2 – 3 lần, tác dụng rất hay.
Chữa dị ứng, lở ngứa, mụn nhọt: đậu đen sao nhỏ lửa đến khi ruột bên trong có màu vàng đậm, lấy 50 - 100g nấu uống trong ngày.

BÀI THUỐC
theo Sức khỏe Đời sống

3 bài thuốc bổ thận tráng dương từ đậu đen đàn ông ai cũng nên dùng



3 bài thuốc bổ thận tráng dương từ đậu đen đàn ông ai cũng nên dùng

3 bài thuốc bổ thận tráng dương từ đậu đen đàn ông ai cũng nên dùng

Đông y cho rằng nước đậu đen có thể bổ thận, giải được độc của các dược liệu bổ thận như hà thủ ô, ba kích... (Theo Bản thảo Cương mục).


Đậu đen tuy là món ăn quen thuộc nhưng không phải ai cũng biết rằng loại đậu này còn được sử dụng làm thuốc chữa nhiều bệnh rất hiệu quả.
Đậu đen còn được gọi là ô đậu, hắc đại đậu... có vị ngọt, tính bình, có tác dụng hoạt huyết giải độc, khứ phong lợi thủy, điều trung hạ khí, thanh nhiệt giải biểu, kiện tỳ chỉ hãn, dưỡng can, làm sáng mắt...
Theo y học hiện đạiđậu đen có glucid 53%, protein 24%, lipid 1,7%, các vitamin A, B1, B2, PP, C; giàu acid amin: lysin, tryptophan, phenylalanin, threonin, valin, leucin, isoleusin, arginin, histidin; các nguyên tố vô cơ: Ca, P, Fe…
Đông y cho rằng nước đậu đen có thể bổ thận, giải được độc của các dược liệu bổ thận như hà thủ ô, ba kích... (Theo Bản thảo Cương mục).
Vì thế, với những người có triệu chứng thận yếu như đau mỏi lưng gối, đau âm ỉ trong xương, răng khô, tóc rụng, xuất tinh sớm, di mộng tinh, hay quên, khó ngủ... thầy thuốc thường hay kê những bài thuốc có đậu đen để trị.
Cách đơn giản nhất là cứ 1 cặp chân gà ta với 100g đậu đen ninh nhừ, nêm vừa ăn, có tác dụng bổ thận, mạnh lưng gối.
3 thuốc bổ thận tráng dương bổ thận từ đậu đen đàn ông ai cũng nên dùng
Đậu đen hầm đuôi lợn (Ảnh minh họa: Internet)
Ngoài ra, bạn có thể áp dụng bài thuốc dưới đây cũng rất công hiệu:
Đuôi lợn: 1 chiếc cắt khúc ướp gia vị trong 15 phút.
Đậu đen: nửa lạng, ngâm nước vài giờ cho mềm.
Cho cả 2 nguyên liệu vào thố, chưng cách thủy. Bắc ra cho gia vị cho thơm rồi ăn nóng.
Món đuôi lợn hầm đậu đen không những bổ dương mà còn bồi bổ cho người mới ốm dậy rất tốt. Nam giới muốn bổ dương, dưỡng thận nên ăn thường xuyên món này.
Bên cạnh đó, bạn có thể dùng đậu đen sống ngâm rượu (1 kg đậu ngâm với 2 lít rượu ngon). Thứ rượu này tuy hơi nồng, khó uống nhưng nếu uống đều đặn mỗi ngày 1 cốc nhỏ rất bổ thận.
theo Đại Lộ

Cây dong riềng đỏ hỗ trợ điều trị bệnh mạch vành

Cây dong riềng đỏ hỗ trợ điều trị bệnh mạch vành


Tên khác

Cây dong riềng đỏ còn được gọi là khoai đao, khương vu

Tên khoa học

Canna edulis red

Khu vực phân bố

Dong riềng đỏ phân bố ở khắp các tỉnh thành trên cả nước, nhiều nhất ở các tỉnh miền núi phia Bắc nước ta như Bắc cạn, Phú thọ, Yên Bái, Sơn la, Hòa Bình …..
Lưu ý: Có 2 loại dong riềng là: Dong riềng trắng và dong riềng đỏ (Dong riềng đỏ có lá thân màu tím, củ màu tím, hoa màu đỏ. Dong riềng trắng có thân lá màu xanh, củ màu xanh) “Xem ảnh để phân biệt”
Bộ phận dùng
Theo y học cổ truyền, toàn bộ: Lá, thân và củ của cây dong riềng đỏ đều được dùng làm thuốc.
Ngoài ra củ dong riềng đỏ còn được dùng trong chế biến thực phẩm: Dùng làm miến (một loại thực phẩm được rất nhiều gia đình ưa thích)

Cách chế biến và thu hái

Dùng trong y học: Vào tháng 10 đến tháng 12 hàng năm, người dân đào lấy cả củ, thân và lá. Củ rửa sạch. Sau đó toàn bộ lá, thân và củ đem thái miếng mỏng phơi khô bảo quản dùng dần để làm thuốc.
Dùng cho công nghiệp thực phẩm: Củ dong riềng được rửa sạch và lọc lấy tinh bột để làm miến.

Thành phần hóa học

Củ dong riềng đỏ có chứa nhiều tinh bột (khoảng 70%), chất khoáng 2%, chất xơ 5%, chất đạm 3%, chất béo 2% và một số hoạt chất khác.

Tính vị và tác dụng

Theo y học cổ truyền củ dong riềng đỏ có vị ngọt, tính mát có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hạ áp, lợi huyết, bổ tim. Lá và thân cây có tác dụng làm dịu và kích thích.

Công dụng chữa bệnh

Tác dụng quý nhất của dong riềng đỏ là “Hỗ trợ điều trị chứng tắc nghẽn động mạch vành”. Đây chính là kinh nghiệm chữa bệnh bằng cây thuốc nam của đồng bào người Dao ở miền Tây Bắc, sử dụng dong riềng đỏ làm thuốc trị chứng tức ngực, khó thở và bệnh tim mạch.
Theo một thống kê: Tỷ lệ bệnh nhân mắc động mạch vành sử dụng dong riềng đỏ khỏi bệnh là rất cao, Một nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam cho thấy người dân tộc Dao có sử dụng cây dong riềng đỏ làm thực phẩm hàng ngày hầu như không mắc các bệnh về tim mạch.
Ngoài ra, bệnh viên Y học cổ truyền tỉnh Bắc cạn đã sử dụng cây dong riềng đỏ để làm thuốc trị bệnh động mạch vành với tỷ lệ khỏi bệnh 90%. Bởi vậy có lúc dong riềng đỏ còn được đặt tên là “Thần dược cho người mắc bệnh tim mạch”.
Hỗ trợ điều trị bệnh tắc nghẽn động mạch vành
Hỗ trợ điều trị sơ vữa động mạch
Tác dụng tăng cường chức năng tim
Phòng chống bệnh nhồi máu cơ tim
Tác dụng lợi tiểu
Tác dụng hạ huyết áp

Đối tượng sử dụng
Sau đây là một số tác dụng chính của cây dong riềng đỏ:
  • Bệnh nhân mắc chứng sơ vữa động mạch, bệnh mạch vành
  • Người có tiền sử bệnh tim mạch
  • Người béo phì, người cao tuổi có tiền sử bệnh nhồi máu cơ tim
  • Người mắc chứng huyết áp cao

Cách dùng, liều dùng

Cách sắc uống: Lấy 60g cả lá, thân và củ rong riềng khô sắc nước uống hàng ngày
Món ăn vị thuốc từ dong riềng đỏ: Lấy 60g củ khô đem rửa sạch, hầm với 1 quả tim lợn ăn cả nước lẫn cái. Mỗi ngày làm 1 lần, ăn liên tục trong thời gian 10 ngày là có kết quả.

Dong Riềng Đỏ và chuyện kể của Bác sỹ Hoàng Sầm


Cây Dong riềng đỏ chữa bệnh mạch vành hiệu quả cao, an toàn tuyệt đối trên hàng nghìn người bệnh mạch vành chưa đặt stent và đã đặt stent. Đây là cây thuốc mới chưa có trong Dược điển, đã được Bác sỹ Hoàng Sầm, người dân tộc Dao (Mán), hiện là Chủ tịch Hội đồng Viện Y học bản địa Việt Nam nghiên cứu từ năm 2002 đến nay. Các nghiên cứu về cây thuốc này đã được cấp quyền tác giả số 3764/2009/QTG và 948/2015/QTG.


Hình ảnh cây thuốc Dong riềng đỏ

Vào những năm 1994, lúc đó tôi mới tốt nghiệp bác sỹ hơn 10 năm, tuổi còn đang trẻ, khao khát hiểu biết và cũng được tiếng chữa bệnh bằng thuốc nam mát tay. Một lần phải đi khám cho mẹ một người bạn ở một nơi khá xa trường Đại học Y Bắc Thái – nơi tôi dạy học, đó là xã Sỹ Bình, Bạch Thông, Bắc Cạn. Nghe nói xã chỉ rộng 27 km2 và chỉ vỏn vẹn có hơn 1,500 người. Nơi ấy đèo heo hút gió, qua suối Pù cà chúng tôi tới nhà bệnh nhân thì trời đã tối. Tranh thủ trước khi ăn cơm tôi hỏi bệnh sử và quá trình mắc bệnh. Được biết người bệnh mắc bệnh suy tim do suy động mạch vành, tuổi đã khá cao. Đã được chạy chữa ở bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên rồi xuống bệnh viện Bạch Mai nhưng bệnh chuyển biến không đáng kể. Khám thấy phù 2 chân, khó thở, tim to, môi lưỡi nhợt nhạt, tiên lượng gần xa đều xấu. Tôi cũng dặn dò, động viên và kê đơn mà trong lòng khiên cưỡng bất an, phần thấy sở học của mình bất lực và vô cùng khiêm tốn.

Năm tháng trôi đi, nhưng sự trân trọng kính quý của đồng bào Dao ở đó cùng với sự bất lực của người làm thầy thuốc ở ca bệnh này mãi gặm nhấm tôi. Sang năm 1997 khi tách tỉnh Bắc Thái thành 2 tỉnh Bắc Cạn và Thái Nguyên, nghe nói bạn tôi về công tác Bắc Cạn, dần chuyện cũ cùng lùi theo và dĩ vãng.

Năm 2002 tôi lên giảng bài cho Hội Đông y Bắc Cạn, may sao gặp lại người bạn cũ ấy. Sau màn chào hỏi mừng rỡ thân tình, tôi thấy ngường ngượng không dám hỏi về thân mẫu của anh. Vì tôi tin chắc rằng chuyện xấu đã xảy ra với bà cụ lâu rồi. Bỗng anh nói “ Bà vẫn thăm anh bác sỹ người Dao suốt đấy, bà bảo anh tận tình và giỏi”. Mừng không tả được, chả lẽ bà còn sống, chả lẽ cái đơn thuốc mình kê lại hiệu nghiệm đến vậy? Tôi thận trọng hỏi thăm xem Cụ có khoẻ không, tình hình bệnh tật thế nào rồi. Anh nói: Mẹ em khỏi rồi anh ạ. Hỏi ra mới biết trong cơn bĩ cực có một ông già cũng người Dao cho 1 cây thuốc Nam lá hơi giống lá dong, thân đỏ như mía dò, củ nhơn nhớt, tên tiếng Dao là cây Si mun, đem cây thuốc này cho bà ăn với tim lợn, trong khoảng hơn 6 tháng, uống tới đâu nhẹ người tới đó và rồi dần dần khỏi, đi nương rẫy được. Tôi mừng quá cho anh, cũng muốn thăm lại cái Bản xa lắc lơ ấy và nhất là đến gặp Ông già cùng dân tộc Dao xin cây thuốc đó xem sao. Duyên số chưa tới hay sao đó, tôi có việc phải về Thái Nguyên gấp.




Bác sĩ Hoàng Sầm - Chủ tịch Hội đồng Viện Y học bản địa Việt Nam


Bẵng đi một thời gian, vào năm 2003, Tôi dạy lớp Bác sỹ chuyên khoa cấp I gia đình, lớp có 17 người, đều là những Bác sỹ học trò cũ, tuổi trên dưới 40, đã tốt nghiệp đại học 16 – 20 năm. Vào giờ giải lao Bác sỹ Nguyễn Quốc Vinh, Trưởng trạm y tế xã Tân Lập, huyện Đồng Hỷ nói: Thầy ạ, em có cây thuốc chữa Mạch vành hay lắm, trước đây em đau thắt ngực liên tục, tháng nào cũng phải tới gặp bác sỹ chuyên khoa tim mạch ở Thái Nguyên, rồi Hà nội … hàng 2 năm trời mà không sao khỏi được; may có Ông lang Xướng ở xã Cao Ngạn có cho mấy liều thuốc nam mà nay em ổn định, hết đau ngực hoàn toàn. Hỏi thêm mới biết đó là một loại củ nhơn nhớt, hơi giống củ dong riềng, ăn chẳng có mùi vị gì nhưng đem nấu với tim lợn cho người bệnh mạch vành ăn cả nước lẫn cái thì rất ổn.

Tôi nghĩ ngay tới cây thuốc nhơn nhớt của ông Lang người Dao trên xã Sỹ Bình Bắc Cạn bèn hỏi tên cây này là gì? Bác sỹ Vinh nói theo tiếng Nùng Cao Bằng gọi đó là cây Slim khỏn, người Nùng Văn quan Lạng sơn gọi là cây Slim tàu tẳng, còn Đại Tá Lương Tuấn nguyên chủ nhiệm Cục chính trị Quân khu I và ông Vi Văn Chò, nguyên Trưởng ty Lương thực thì gọi là Si mun, tiếng kinh gọi là cây Dong riềng đỏ. Slim khỏn nghĩa là tim đập rộn, khốn; Slim tàu tẳng nghĩa là tim đập nhanh liên hồi; Si mun theo tiếng Dao nghĩa là đau tim. Tôi mừng quá là mừng vì sự trùng hợp này, mừng vì đây có thể là một phát hiện mới, mừng vì nó sẽ không bị thất truyền cho thế hệ sau. Thật vậy vì tới khi tôi viết bài báo này ông lang người Dao trên sỹ Bình và cả ông Xướng xã Cao ngạn đều đã không còn nữa.

Để chắc chắn hơn về sinh thái, hình thái giải phẫu và tác dụng cây dong riềng đỏ trong dân gian, năm 2004 chúng tôi tổ chức đi điều tra, khảo sát tới 16 tỉnh, 26 huyện của toàn Việt Bắc và Tây bắc; làm điện tim cho 2 khu vực khác tỉnh, mà ở đó người dân tộc thiểu số có trồng, dùng hoặc không biết trồng dùng cây dong riềng đỏ để ăn. So sánh hơn 170 bản ghi điện tim của người có tuổi, người cao tuổi cho thấy vùng có sử dụng dong riềng đỏ làm thực phẩm tỷ lệ mắc bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ do mạch vành ít hơn tới mức hơn cả mong đợi. Như vậy, sơ bộ có thể kết luận dong riềng đỏ có tác dụng phòng ngừa bệnh mạch vành.
 Để làm sáng tỏ giá trị cây thuốc vô cùng quý giá mà lại không hiếm này năm 2005 nhóm nghiên cứu của chúng tôi tiến hành đề tài khoa học tên là: “Nghiên cứu dịch chiết cây Dong riềng đỏ ứng dụng điều trị cơ tim thiếu máu cục bộ”, đây là đề tài trọng điểm cấp Bộ mang mã số: B2005-04-46TĐ do bộ giáo dục và đào tạo cấp kinh phí. Với sự giúp đỡ, hỗ trợ, phối hợp, chỉ dẫn tận tình của hơn 10 giáo sư, tiến sỹ y dược học như Giáo sư Nguyễn Nghĩa Thìn, Giáo sư Trịnh Bình, Giáo sư Nguyễn Trọng Thông, Phó giáo sư Phùng Quốc Việt, tiến sỹ Nguyễn Kháng Sơn … Đề tài đã được nghiên cứu thành công và nghiệm thu bởi hội đồng khoa học cấp bộ đạt kết quả xuất sắc.
Trên thế giới hiếm cây thuốc nào chữa bệnh tim mà lại tích hợp được 7 tác dụng trong 1 cây thuốc như cây dong riềng đỏ. Vì nó vừa chữa suy tim; vừa hạ huyết áp; điều hoà nhịp tim; vừa giãn vi mạch tăng tưới máu cơ tim; giảm đau ngực nhanh như thuốc tây; vừa làm sạch lòng mạch vành; vừa an thần. Chỉ cần độc vị dong riềng đỏ nấu với tim lợn, bất kể là lá, hay thân hoặc củ đã sao thơm hãm nấu lên với 1 quả tim là đã thấy được hiệu quả ngay, người kém ăn có thể chỉ cần uống nước.
 Từng chứng kiến những bệnh nhân chụp xạ hình gắng sức vùng cơ tim thiếu máu tới 41%, những bệnh nhân hẹp khẩu kính mạch vành tới 82%. Vậy mà chỉ sau 8-12 tháng vùng thiếu máu trên xạ hình chỉ còn 5%, khẩu kính lòng mạch vành cải thiện rõ rệt. Ngay cả những người sau đặt stent nong mạch vành mà vẫn đau ngực cũng hiệu quả.
Hiện nay cây Dong riềng đỏ đã được xác lập quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam và công ước về sở hữu trí tuệ thế giới. Đây là cơ sở pháp lý để cây thuốc này được tiếp cận với những người Việt Nam không may mắc bệnh mạch vành tim và xa hơn nữa có thể vươn ra thế giới.

Từ 10 hạt giống đầu tiên, cách đây 15 năm, đến nay Viện Y học bản địa Việt Nam đã nhân giống ra hàng chục héc ta để chủ động nguồn cây thuốc Dong riềng đỏ phục vụ nghiên cứu và chữa bệnh. Nhiều bệnh nhân sau khi điều trị bệnh ổn định, đã được Viện chúng tôi tặng miễn phí hạt giống Dong riềng đỏ cũng như hướng dẫn cách trồng và sử dụng để chữa bệnh lâu dài.

Bác sỹ Hoàng Sầm
Chủ tịch Hội đồng Viện Y học bản địa Việt Nam

Theo Báo Dân tộc & Phát triển số ra ngày 10/6/2015 – Trang 11

TÓM TẮT “ NGHIÊN CỨU DỊCH CHIẾT CÂY DONG RIỀNG ĐỎ ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ BỆNH CƠ TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ”

Mã số: B2005-04-46TĐ

Chủ nhiệm đề tài: Bs. Hoàng Sầm – Đại học Y Dược Thái Nguyên

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau thắt ngực được coi là mầm non của nhồi máu cơ tim, suy tim do suy vành.

Trên thế giới, đau thắt ngực do cơ tim thiếu máu cục bộ do mạch vành là phổ biến và nghiêm trọng.
Sự sống còn của mạch vành chính là sự sống còn của tim, sự sống còn của tim chính là sự sống còn của người bệnh.
Tại các nước Âu – Mỹ tỷ lệ chết có liên quan trực tiếp tới mạch vành chiếm 33-35%. Theo thống kê 1993, số lượng người Việt Nam chết trực tiếp do mạch vành là 29,3%. Bệnh mạch vành là kẻ giết người số 1 của nhân loại ( Câu nói của Giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh nguyên trưởng bộ môn sinh lý bệnh Đại học y Hà nội, 1988)
Bệnh lý đau thắt ngực thường được coi là “mầm non” của nhồi máu cơ tim, suy tim do suy vành và giảm tuổi thọ, đột quỵ loài người.

Phương pháp điều trị bệnh mạch vành hiện nay

+ Nội khoa: nhóm thuốc giãn mạch vành, chống đông, chống suy tim, giảm mỡ máu để thụ động, gián tiếp cải thiện tình trạng lòng mạch hẹp do xơ vữa.
+ Can thiệp: thủ thuật nong vành, đặt stent, phẫu thuật bắc cầu vành, các thủ thuật rất đắt và không phổ cập được cho các tuyến y tế cơ sở và các bệnh viên tư nhân.

Thông tin về cây An tim (tên khác: Dong riềng đỏ, Xim khỏn, Sim mun, Xim tầu tẳng)

Năm 2002, nhóm nghiên cứu phát hiện và thừa kế cây thuốc An tim là cây thuốc chữa đau thắt ngực, đau nhói ngực, khó thở, tim đập nhanh, mệt mỏi, phù chân.
Theo sự mô tả của ông lang dân tộc thiểu số dường như phù hợp với chứng đau thắt ngực do bệnh lý mạch vành và suy tim do suy vành.
Cây thuốc này nhiều tên gọi: Cao Bằng gọi là Xim khỏn hoặc An tim; Lạng Sơn gọi là Xim-tầu-tẳng có nghĩa là tim đập nhanh; người Dao gọi sim mun nghĩa là đau tim, người Việt Thái Nguyên gọi là dong riềng đỏ (riềng đỏ, riềng tím)

Nghiên cứu tiền khả thi
Từ giữa năm 2003, nghiên cứu hồi cứu trên 56 bệnh nhân đã được điều trị cơn đau thắt ngực bằng cây thuốc này từ bác sỹ Nguyễn Quốc Vinh, thấy kết quả hết sức khả quan.
Nghiên cứu tiền cứu lâm sàng cộng bằng tự đối chứng trước – sau qua triệu chứng lâm sàng và điện tim. Kết quả: Với 112 bệnh nhân bị đau thắt ngực do cơ tim thiếu máu cục bộ đều giảm hoặc hết đau ngực. Hình ảnh điện tim trước – sau điều trị được cải thiện rõ rệt trên sóng T và ST.
Suy luận: giả thiết rằng cây riềng đỏ có khả năng tác dụng cải thiện tình trạng mạch vành bệnh lý gây chứng đau thắt ngực hiệu quả.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. Xác định tên khoa học và hình thái giải phẫu thực vật đại thể, vi thể của cây riềng đỏ.
2. Xác lập qui trình chiết xuất hoạt chất từ cây riềng đỏ và bước đầu phân tích một số hoạt chất trong dịch chiết cây riềng đỏ.
3. Nghiên cứu độ an toàn của dịch chiết qua súc vật thực nghiệm để xác định độc tính cấp, liều LD50 và độc tính bán trường diễn.
4. Thử nghiệm sinh khả dụng trên người tình nguyện
5. Thử thuốc lâm sàng có đối chứng trên người với vị thuốc đan sâm

PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ, PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

Mục tiêu 1: Xác định tên khoa học và hình thái giải phẫu thực vật đại thể, vi thể của cây riềng đỏ.
Sử dụng khóa phân loại thực vật, độc lập đọc tiêu bản đại thể và vi thể của nhiều nhà khoa học
Phản biện kín trên cơ sở so sánh loại trừ
Xử lý kết quả bằng toán logic
Xác định tên khoa học của cây Dong riềng đỏ.
Mục tiêu 2: Xác lập qui trình chiết xuất hoạt chất từ cây riềng đỏ, bước đầu phân tích một số hoạt chất trong dịch chiết cây riềng đỏ có khả năng tác dụng trên mạch vành .
So sánh loại trừ các loại dung môi phân cực và không phân cực bằng chiết phân đoạn trên bình shoxlett qua kết quả định tính, định lượng
Sử dụng các loại phổ cộng hưởng từ H-NMR, phổ FTIR, phổ EI-MS, Phổ C-NMR.. để xác định tên, cấu trúc phân tử các chất phân lập được
Mục tiêu 3: Nghiên cứu độ an toàn của dịch chiết qua súc vật thực nghiệm để xác định độc tính cấp, liều LD50 và độc tính bán trường diễn.
Xác định độc tính cấp và LD 50 của dịch chiết RĐ trên chuột nhắt trắng chủng swiss theo phương pháp Litchfield – Wilcoxon: đếm số chuột chết và kết quả mô tả tiêu bản mô tim, gan, thận.
Xác định độc tính bán trường diễn trên thỏ Orytolagus cuniculus bằng tiêu bản mô tim, gan, thận và 19 chỉ tiêu sinh hóa máu thỏ
Mục tiêu 4: Thử nghiệm sinh khả dụng trên người tình nguyện
Phát hiện hoạt chất RĐ xuất hiện trong máu sinh viên khỏe mạnh, tình nguyện bằng đường uống và ngậm dưới lưỡi theo biểu đồ thời gian
Vẽ đường cong sinh khả dụng

Mục tiêu 5: Thử thuốc lâm sàng có đối chứng trên người với vị thuốc đan sâm
Thiết kế nhóm trị và nhóm chứng ngẫu nhiên với n= 60 trên cơ sở tuyển mịn theo tiêu chuẩn vàng. Mẫu ∑ = 60 chia 2 nhóm n1=30, n2=30.Thử thuốc lâm sàng có đối chứng trên người giữa riềng đỏ và Đan sâm với liều trung bình
Xây dựng tiêu chí đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng
Xử lý kết quả bằng phần mềm thuật toán thống kê
Thử thuốc lâm sàng có đối chứng trên người giữa riềng đỏ và Đan sâm với liều trung bình

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

– Đã xác định được tên khoa học và hình thái giải phẫu thực vật đại thể, vi thể của cây dong riềng đỏ. Đây là cây chưa được ghi trong các tài liệu định danh sinh vật học ở Việt Nam tại thời điểm trước khi kết quả nghiên cứu được công bố.

– Đã xây dựng được phương pháp và quy trình chuẩn để chiết xuất các thành phần của cây Dong riềng đỏ. Sản phẩm dịch chiết này được sử dụng trên động vật và người tình nguyện tham gia nghiên cứu

– Đã chứng minh được dịch chiết Dong riềng đỏ an toàn với người sử dụng thông qua nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn trên chuột nhắt trắng và thỏ

– Kết quả thử nghiệm trên người tình nguyện cho thấy tác dụng điều trị của dịch chiết Dong riềng đỏ trên bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ rất rõ ràng và có ý nghĩa thống kê.


Biên tập bởi: Bác sĩ Nguyễn Thành Nhật